Home / Kiến thức / Cá Hải Hồ Heckelii – Acarichthys heckelii
Hình ảnh Cá Hải Hồ Heckelii - Acarichthys heckelii
Cá Hải Hồ Heckelii - Acarichthys heckelii

Cá Hải Hồ Heckelii – Acarichthys heckelii

Cá cảnh Thái Hòa xin giới thiệu tới người chơi thông tin về loài cá cảnh khá phổ biến hiện nay là cá Hải Hồ Heckelii. Bài viết được dịch từ Cichlidae sẽ đem đến cho bạn cái nhìn khá tổng quan về cá tuyệt đẹp này.

Giới thiệu
Acarichthys heckelii (Muller and Troschel 1848), không nghi ngờ gì nữa, là một trong những thành viên hấp dẫn và được săn đón nhất thuộc nhóm cá hải hồ (geophagine cichlid). Mặc dù trong nhiều năm trời thỉnh thoảng được nhập khẩu và dễ dàng thích nghi với môi trường hồ nuôi, Acarichthys heckelii, cho đến tận gần đây, vẫn chống lại những nỗ lực tai tạo trong hồ nuôi. Baran (1981) có lẽ thông báo đợt sinh sản thành công đầu tiên của loài này trong một tài liệu về thú chơi. Bài viết này mô tả đợt sinh sản thành công thứ hai và, nói chung, về sinh học của loài cichlid tuyệt vời này.

Lịch sử phân loại và hiện trạng của Acarichthys heckelii
Acarichthys heckelii được mô tả lần đầu bởi Muller và Troschel (1848) như là Acara heckelii từ mẫu vật được thu thập ở Guyana và sau này được Eigenmann (1912) đưa vào chi đơn (monotypic) Acarichthys. Eigenmann lập ra chi này cho những loài tương tự-Aequidens với các thùy mang trên (epibranchial lobe) kém phát triển và một vài (1-2) nan lược (raker) dọc theo viền của cung mang đầu tiên: đặc điểm đầu phân biệt Acarichthys với Aequidens Eigenmann and Bray 1894 (không thùy) và với Geophagus Heckel 1840 (thùy phát triển), và đặc điểm sau hết sức khác biệt với các loài thuộc chi Geophagus (10 hay nhiều hơn nan lược dài mảnh) và giống các loài thuộc chi Aequidens hơn về số lượng và kích thước (vài nan lược, ngắn, mập). Vị trí trung gian rõ ràng của Acarichthys heckelii giữa các chi Aequidens và Geophagus được phản ánh qua lịch sử danh pháp của loài cá này. Acara (=Aequidenssubocularis (Cope 1878) và Geophagus thayeri Steindachner 1875 được đồng nghĩa lần đầu bởi Regan (1905) theo tên cũ dựa trên nền tảng cấu trúc nan lược-thùy mang suy giảm của “thayeri”. Cái tên không hợp lệ Geophagus thayeri vẫn được sử dụng một cách nhầm lẫn trong ngành kinh doanh cá cảnh cho các loài Acarichthys heckeliivà Geophagus surinamensis (Bloch 1791) có lẽ vì sự xác nhận của Axelrod (và đồng sự 1962), trong lần xuất bản đầu tiên cuốn “Exotic Tropical Fishes” [Cá Cảnh Nhiệt Đới] của ông, sai sót được chỉnh sửa trong lần xuất bản tiếp theo (Revised and Expanded Edition, 1980). Cả hai về sau đều được coi là tên phụ đồng nghĩa của Acara heckelii Muller and Troschel 1848 và tiếp theo được tái sắp xếp bởi Eigenmann (1912) vào chi Acarichthys.

Pellegrin (1903) lần đầu lưu ý đến hình thái thùy-nan lược đặc biệt của Geophagus thayeri Steindachner 1875 và gợi ý rằng nó có lẽ là loài trung gian hình thành cầu nối giữa các chi Acara (=Aequidens) và Geophagus. Eigenmann (1912) về sau mở rộng vị trí này trong mô tả của ông về chi mới Acarichthys. Ông viết: “Chi này kết nối sự gián đoạn giữa Aequidens ở một bên và Geophagus ở bên kia” (trang 500).

Lowe-McConnell (1969) viết rằng các ngư phủ bản xứ Guyana gọi lẫn lộn Acarichthys heckelii là “Shau”, tên địa phương của các loài Geophagus, hay “Deburus” tên địa phương của các loài Aequidens. Trong khi cả Steindachner (1875) lẫn Cope (1878) đều lưu ý đến sự giống nhau rất mực giữa Acarichthys heckelii và Biotodoma cupido (Heckel 1840), Eigenmann (1912) gợi ý mối quan hệ gần gũi với Retroculus (Castelnau 1855; một chi với hình thái nan lược-thùy mang tương tự) và gợi ý xa hơn, “Nó rất gần với Guianacara geayi về hình dáng” (trang 500) (Xem Loiselle 1980 về hình ảnh của các loài geophagine ở trên). Các nghiên cứu xa hơn đã hỗ trợ cho mối quan hệ về tiến hóa này với Guianacara geayi vốn đồng cư (sympatrically) với Acarichthys heckelii tại vùng phân bố của nó ở Guyana. Regan (1905) lần đầu kết nối vị trí này một cách trực tiếp. Ông viết: “Do đó loài này rơi vào chi Acara và hiển nhiên vị trí của nó là bên cạnh Acara geayi Pellegrin vốn giống nhau về nhiều mặt” (trang 557). Cá trưởng thành của cả hai loài và nhất là cá non dưới 2 cm TL (xem dưới cùng) trông rất mực giống nhau (Hình 7 & 8). Kullander (1980) gần đây loại Guianacara geayi ra khỏi chi Aequidens và gộp với heckelii vào chi Acarichthys, gợi ý đã được một số nhà thủy sinh Đức (Baran 1981) chấp nhận trước khi tái phân loại chính thức.

Thông tin chung
Acarichthys heckelii là loài cichlid kích thước-trung bình hết sức hấp dẫn đạt đến 150 mm chiều dài chuẩn trong hồ nuôi, điều này mâu thuẫn với báo cáo của Cichocki (1976) là 120 mm SL với cá thể hoang dã. Thân hình gọn gàng và hoàn toàn không phải hình dáng của geophagine: miệng nhỏ hơn, chỉ nhô vừa phải, và nằm ở giữa, ngược lại với miệng rộng, trễ và hình dạng mõm dài, bụng dẹp của geophagine cichlid điển hình như Satanoperca jurupari. Trong khi hình thái mang riêng biệt (vài nan lược) hạn chế việc sục đáy, Acarichthys heckelii lại là loài đào bới đáng kinh ngạc trong hồ cảnh và ngoài tự nhiên (xem “Hành vi Sinh sản”). Chẳng ngạc nhiên khi loài cichlid tầng giữa Acarichthys heckelii đớp thức ăn từ mọi vị trí của tầng nước, ngược với hành vi hướng đáy (substrate-oriented) nhiều hơn của Satanoperca jurupari chẳng hạn.

Màu nền của cá này là xám-lục vừa phải với nhiều vệt ngũ hay lục giác mờ rải rác khắp thân; một hình thức “ngụy trang” (camouflage) vốn thể hiện sẫm màu và nổi bật ở cá non hay cá lớn phục tùng (submissive). Một quầng cam-đồng lan từ viền mang về sau đến đốm đen giữa-đường bên và từ chân vây lưng xuống đến gần bụng. Lườn phủ đầy các hàng màu đồng thau hình thành từ các đốm ánh kim giữa vảy, hoa văn rất giống với Satanoperca jurupari. Một đốm đen lớn (cỡ con mắt) giữa-đường bên bị kẹp trước và sau bởi các sọc (đồng-trắng) cao tương tự như Biotodoma cupido. Chúng thường mờ nhạt, nhưng trở nên nổi bật khi đốm đen mờ đi ở các cá thể phục tùng. Một sọc đen kéo dài từ mắt xuống đến mang (như Guianacara geayi) và chúng chỉ được kết nối một cách mờ nhạt giữa hai mắt (interorbitaly). Nắp mang hơi có đốm xanh và mang dưới (branchiostegals) đậm đến đen thui trong quá trình ghép cặp và sinh sản.

Hai-ba gai vây lưng đầu tiên màu đen, nhất là ở cá bột và cá non (Hình 6). Màu này nhạt đi ở cá trưởng thành nhưng thể hiện vào giai đoạn bắp cặp. Màng liên kết giữa các tia mềm vây lưng có đốm trắng trong (hyaline) và 5-6 tia mềm đặc biệt phát triển và chóp đỏ, kéo về phía sau quá đuôi ở những cá thể xinh đẹp (xem Hình 1). Đuôi có cạnh nhẹ hay vừa phải, kéo dài với tua nhỏ màu đỏ ở cạnh trên hay cạnh dưới của nó, và với các hàng đốm trong ở màng vây tương tự vây lưng. Vây hậu môn màu cam tươi với các đốm lam, kéo dài, và viền đỏ và đen sẫm. Vây bụng thuôn và có chiều dài trung bình, màu cam tươi, và viền đen (tia vây đầu tiên) vốn sẫm màu trong giai đoạn bắt cặp và sinh sản. Tôi xin đề nghị biệt hiệu thông thường: “Heckel acara vây tua” (Heckel’s Thread-Finned Acara) dựa trên đặc điểm vây tua đặc biệt này.

Mặc dù Cichocki (1976) gợi ý rằng chiều dài của tua vây lưng và kích thước thân (cá đực lớn hơn cá cái) là những đặc điểm lưỡng hình đáng tin cậy, nhưng đặc điểm rõ ràng và ổn định duy nhất mà tôi thấy nơi các cá thể của mình là dạng thân. Cá cái động dục (ripe) nổi bật với góc tròn và căng ở cái bụng đầy trứng tạo ra vệt ánh kim ngay bên trên lỗ huyệt (Hình 2). Trán của cá đực rõ ràng dựng và căng hơn, khiến cho mặt nó trông ngắn (pug-nosed), dẹp hơn. Phân biệt giới tính rất dễ dàng vào giai đoạn cuối của quá trình bắt cặp khi vòi trứng lớn của cá cái lòi ra và gần như nằm ngang và song song với bụng nó. Nhiệt độ cao (85-90°F) kích thích việc bắt cặp và vòi đẻ trồi ra ở cá này (xem Kích thích Sinh sản ở dưới) và có thể dùng để phân biệt giới tính cá trưởng thành.

Kiểu sinh học và Lịch sử Tự nhiên

Địa sinh họcAcarichthys heckelii từng được đánh bắt từ sông và hồ thuộc kênh Essequibo ở Guyana và mạn bắc hệ thống sông Amazonian, từ tây Peru đến Brazil (Eigenmann 1912, Lowe-McConnell 1969). Một nghiên cứu hầu như hoàn chỉnh về lịch sử tự nhiên của chúng ở quận Rupununi River của Guyana (nhánh nam sông Essequibo) được hoàn tất và xuất bản bởi Fred Cichocki (1976). Đây là công trình cung cấp hầu hết những gì mà chúng ta hiện biết về lịch sử tự nhiên và hành vi sinh sản của loài cá này.

Ở quận Rupununi River, Acarichthys heckelii được phát hiện ở cả các hồ nông (2 m), thông suối (spring-fed), thường ngập (pernanent) trên nền hỗn hợp cát pha đất mùn, lẫn các môi trường ven sông điển hình và bãi ngập theo mùa ở đồng cỏ (savannah) kế cận. Nhìn chung, nước ở những điểm thường ngập mềm và acid (pH = 6.00-6.75), nhưng những quần thể Acarichthys heckelii khác được phát hiện sống trong nước từ trung hòa đến kiềm (pH = 7-8) với độ cứng carbonate trung bình (Cichocki 1976). Khả năng chịu đựng tầm hóa học nước rộng này được phản ánh qua trải nghiệm trong hồ nuôi nơi mà heckelii hoàn toàn thích nghi. Từ tháng tư đến tháng bảy (mùa mưa) nhiệt độ của những kiểu sinh học (biotype) này có tầm từ 28-30.5°C (82.5-87°F) được báo cáo trước đây bởi Lowe-McConnell (1964). Với ngoại lệ được lưu ý bởi Cichocki (1976), nước hồ và sông nói chung trong suốt điều, cùng với độ mềm và aicd, phản ánh nồng độ khoáng chất tương đối nghèo của đất (Lowe-McConnell 1964).

Hành vi Sinh sản: Khi đọc bài phát biểu của Loiselle’s (1980) rằng Acarichthys heckelii là “loài đẻ trứng mặt đáy vốn đẻ trứng vào một hang dài được đào ở nền” (trang 24) tôi vẫn chưa biết về báo cáo đầy đủ của Cichocki’s (1976) về hình thức sinh sản đặc biệt này dựa trên hàng giờ quan sát bằng mặt nạ và ống thở nhiều cặp cá ở Grani Pond (Guyana). Đây là hồ thông suối (spring-fed), thường ngập (pernanent), độ sâu tối đa khoảng 2 m với nền cát được che phủ ở giữa bởi một lớp đất mùn (earthy peat) đen, dày. Mặc dù cá non và cá thể trưởng thành không-động dục (non-breeding) thường ở vùng ngoại vi có thực vật, những cá thể trưởng thành động dục chỉ chọn địa điểm ở những vùng trung tâm phủ bùn, không thực vật của hồ.

Cá cái cạnh tranh lãnh địa và đào hang hay hầm trong đáy nền đất mùn. Cichocki (1976) mô tả các hang này có lối vào gần như dốc đứng vốn ngả dần thành đường hầm ngang với chiều dài 13-53 cm mà nó dẫn đến một phòng đẻ (nutipal chamber) lớn hơn, ở trung tâm, nơi mà trứng thực sự được đẻ vào. Có lẽ có nhiều lối vào phòng đẻ này và nhiều phòng kín (blind side) khác: cấu trúc tổng thể giống một cách kỳ lạ với hang của loài chuột nang (gopher). Một khi tổ hợp được hoàn tất, cá cái động dục chủ động dẫn dụ những cá đực xung quanh. Một khi đối tượng thích hợp được chọn, cặp cá bảo vệ một lãnh thổ đường kính 2-3 m bên trên đáy nền đất mùn, với khu vực trên phòng đẻ là trọng tâm. Tiếp theo quá trình bắt cặp kéo dài mà các cấu thành hành vi của nó được mô tả một cách thấu đáo bởi Cichocki (1976), 2000 trứng được đẻ, có lẽ trên tường và trần của phòng đẻ. Việc quạt ổ trứng chủ yếu là trách nhiệm của cá cái, trong khi cá đực thực sự tuần tra lãnh thổ bên trên phức hợp đường hầm-tổ. Tiếp theo các giai đoạn nở và bơi tự do, cá cha mẹ tiếp tục bảo vệ cá bột sử dụng tổ như là tâm điểm. Khi gặp nguy hiểm, cá bột đổ ngược về hang theo tín hiệu của cha mẹ. Cá bột bị cha mẹ chúng rời bỏ ở 8-12 mm SL, nhưng có thể vẫn tiếp tục ở gần tổ và sử dụng nó để lẩn trốn mà không có sự hiện diện của cha mẹ. Một khi được bỏ trống, hang có thể bị cá cái động dục khác chiếm lấy, và quy trình sinh sản lại tái diễn. Nhờ sự ổn định của đất mùn, hang có thể được tái sử dụng nhiều lần. Mặc dù Lowe-McConnell (1969) gợi ý rằng Acarichthys heckelii có lẽ sinh sản theo mùa, Cichocki (1976) phát hiện mùa vụ (seasonality) hay sự đồng điệu (synchrony) không liên quan đến việc phát dục hay sinh sản. Thành thục sinh sản rõ ràng đạt vào năm thứ hai ở chiều dài chuẩn (SL) là 65 mm với cá cái, và vào năm thứ ba của cá đực ở 75 mm SL: hầu hết các đợt sinh sản được Cichocki (1976) chứng kiến đều bao gồm những cá thể đạt ít nhất tròn hai năm tuổi. Cá giống của tôi đã được nuôi trong gần một năm từ bầy gồm những cá thể 60 mm SL và có lẽ đạt hai năm tuổi khi chúng sinh sản (xem ở dưới).

Tổng quát về Nuôi dưỡng: Dữ liệu của Cichocki (1976) cung cấp một nền tảng tốt cho chiến lược nuôi dưỡng và lai tạo thành công. Nhìn chung Acarichthys heckelii không có vấn đề gì trong việc nuôi dưỡng. Tôi từng phát hiện chúng khá nhạy cảm với điều kiện hay hóa học nước (bảo trì chu trình ni-tơ). Chúng là loài ăn tạp và phàm ăn, xơi đủ thứ từ thức ăn tấm (flake), viên, đông lạnh lẫn tươi sống với hào hứng đáng kể và tương đương. Việc bổ sung một số thực vật là nên làm dựa trên các phân tích về ruột mạnh khỏe được báo cáo bởi Lowe-McConnell (1969) và kinh nghiệm của chính tôi. Nhìn chung, Acarichthys heckelii chuộng nước ấm (tối thiểu 80°F), nhưng hoàn toàn chịu đựng được tầm nhiệt độ từ giữa-60 đến cao-90°F (xem ở dưới).

Cá có hai hạn chế nghiêm trọng trong hồ nuôi: chúng di dời sỏi cực nhiều và liên tục, và cá trưởng thành xấu xa khó lường với đồng loại. Cái đầu chẳng phải là vấn đề đối với tôi: tôi nuôi tất cả geophagine cichlid của mình trong hồ thủy sinh trên nền cát mịn (#1) cho sở thích sục đáy của chúng và hoàn toàn thông cảm với bất kỳ xáo trộn đáy nền nào xảy đến. Cái sau, sự hung dữ với đồng loại, chứng tỏ là chướng ngại khó khăn nhất đối với việc lai tạo loài cá cực kỳ xinh đẹp và dễ nuôi này. Mặc dù cá non rất hiền lành và hòa đồng, tôi sẽ không nuôi một cặp trưởng thành (lai tạo) trong bất cứ hồ nào dài dưới năm foot [1.5 m] với thật nhiều chỗ trú ẩn và theo dõi sát sao. Đồng loại dôi ra bị cặp cá cắn xé không thương tiếc và thường lãnh đủ ngay lập tức. Trong cộng đồng cichlid, nhất là tình huống đông đúc khi thiếu vắng cấu trúc đá phòng thủ, Acarichthys heckeliilà công dân gương mẫu với sự can trường và dũng cảm đủ để không trở thành nạn nhân, trong khi dịu dàng đáng kể với đồng loại.

Sinh sản trong Hồ nuôi: Việc lai tạo loài cá xinh đẹp này từng là mơ ước trong nhiều năm trời đối với tôi. Ngoài một số màn cắn mỏ (lip-locking) vừa phải, nhóm bốn cá thể đầu tiên của tôi chưa bao giờ thể hiện sự thích thú trong việc tạo ra lứa hậu duệ. Điều này gần như chắc chắn liên quan đến nguồn nước rất cứng, kiềm ở Vermont mà chúng được nuôi và lớn lên trong đó và phần nào là chế độ chăm sóc thiếu chuẩn mực mà chúng được nhận. Một bầy cá hoang đủ mọi kích thước mới, bao gồm hai cá thể lớn (100 mm SL) được nhận vào mùa hè 1981 và theo tôi đến vùng Boston khi tôi tái định cư vào mùa thu năm đó. Chuyện trở nên rõ ràng rằng hai con cá lớn là đực và cái, và trong nước cực mềm, acid mà tôi được ban phát ở vùng Boston, khởi đầu của điều dường như là việc bắt cặp nghiêm túc là hiển nhiên. Hai con được dời từ hồ cộng đồng Geophagus80 gallon sang hồ đẻ 50 gallon được trang bị một chậu trồng hoa lớn và nhiều mặt đá phiến thẳng đứng và nằm ngang. Cặp cá đào bới điên cuồng, quấn quýt một cách nổi bật và liên tục, thỉnh thoảng gây gổ nhưng nhìn chung, hành xử như một cặp đang yêu hoàn hảo. Chúng được biệt dưỡng bằng việc cho ăn thường xuyên trùn đất tươi sống mà chúng ăn ngấu nghiến và rồi cá cái căng và chín một cách rõ ràng. Tôi chờ đợi hàng tuần cho điều mà tôi nghĩ là sinh sản chắc chắn, và một buổi sáng được chào đón bằng cái xác tím đen của con cá cái. Tôi gần như đập nát ngư phòng vì thất vọng! Con đực lớn (150 mm SL) được đem cho một tay cuồng heckelii khác cũng dự định lai tạo chúng vì lợi ích lớn lao của thú chơi cichlid.

Hiện tại, sáu con heckelii nhỏ còn lại (~ 60 mm SL) dặt dẹo trong một chuồng thỏ 35 (gallon) cho phần tốt đẹp hơn trong chín tháng khi chúng dần đạt kích thước, màu sắc và bộ vây trưởng thành. Đến đầu mùa hè (1982) điều dường như là việc bắt cặp và sửa soạn/bảo vệ sơ địa điểm sinh sản đã rất rõ ràng, và sáu con cá 100-110 mm SL được dời qua hồ năm foot 65 gallon. Với việc cho ăn tim bò và trùn đất tươi sống thường xuyên cùng với thức ăn chế biến sẵn thông thường (trout chow, viên tôm, và viên rau chất lượng), cá lớn nhanh chóng và việc bắt cặp và gắn bó đã diễn ra. Bốn con cá lớn nhất hình thành hai cặp gắn bó chiếm các lãnh địa tương đương vốn chia hồ năm foot thành hai phần và khiến hai con nhỏ hơn chạy cuống cuồng trên mặt nước giữa hai cặp (Hình 3). Hai con kém may mắn này được bắt ra và chuyển cho người hâm mộ heckeliikhác.

Tôi vẫn chưa nhận được bản sao tham luận của Cichocki (1976) hay báo cáo sinh sản của Baran (1981) trên DCG Journal, và mô tả súc tích của Loiselle (1980) về hành vi sinh sản, điều khiến tôi vò đầu bứt tai. Về quan hệ mặc định của heckelii và Guianacara geayi, một loài đẻ trứng trong hang (Haeffner 1979), tôi cho hai cặp một chậu trồng cây lớn (đường kính 12 inch) lật úp với một lỗ được đục làm lối vào cùng với nhiều bề mặt đứng và ngang và một lớp cát mịn dày sáu inch (Sinh sản thành công của Baran [1981] diễn ra trong một hũ kẹo đường kính 25 cm lật úp!) Việc cho ăn trùn đất tươi sống thoải mái và thay nước triệt để, khiến hai cặp quấn quít như điên. Bạn tình được thay đổi thường xuyên, và tôi thường phải can thiệp để phân xử điều mà chắc chắn sẽ dẫn đến món súp cá nếu cứ để yên. Tấm ngăn khay trứng được gắn vào và gỡ ra, cá được vớt ra và thả vào: nếu cái hồ đang nói không được đặt trong văn phòng của tôi và dưới sự giám sát liên tục của tôi thì tôi chắc mình sẽ hốt đủ bốn cái xác trương sình chứ không phải là đợt sinh sản mà tôi định báo cáo.

Ginny và Charley Eckstein ở Long Island, New York, các nhà thủy sinh nổi tiếng và cũng là fan hâm mộ của loài cá này, những người dành thời gian (nổi điên) của mình cho một số lượng lớn heckelii, khẳng định trải nghiệm của tôi với về tính cách cực kỳ hung hăng và tâm trạng khó lường của loài cá này. Đau buồn đeo đuổi heckelii khi bạn tình của nó thức giấc ở phía bên kia của chậu hoa! Trải nghiệm của Eckstein mang lại một chìa khóa quan trọng để lai tạo loài cá này. Ginny Eckstein có thể dẫn dụ bắt cặp và lú vòi sinh sản bằng cách đơn giản tăng nhiệt độ nước lên chín mươi °F! Tôi bắt đầu thực hiện một cách có hệ thống với thông số này, tăng nó lên 96°F và duy trì trong 3-4 ngày, rồi hạ nó xuống cỡ 70 trong nhiều ngày, và lặp lại quy trình. Việc này kết hợp với thay nước nhiều, thường xuyên và cho ăn tim bò và trùn đất thoải mái (ad libitum) sau cùng có tác dụng sau hai tuần áp dụng chiến thuật này. Hai ngày trước khi tôi rời hội thảo 1982 Milwaukee ACA theo lịch trình, một cặp đẻ bên trong chậu trồng cây lật úp! Tôi ít ra là ngất ngây nhưng đồng thời cũng tràn ngập lo lắng: có nên bỏ hội thảo để chăm lo đợt sinh sản hiếm này? Thực sự có khoảng 1-2 ngàn trứng màu ngà (2 mm dọc theo trục) bao phủ bề mặt, ở trên và hai bên, của chậu hoa úp! Trứng dính theo trục dài nhưng không có tua, và với khoảng cách tương đối giữa mỗi trái (Hình 4 & 5). Cá cái độc quyền quạt trứng, thỉnh thoảng chỉ rời chậu để kiếm ăn và biểu diễn với bạn tình của nó. Lúc này, cặp cá kia được dời đi. Ngày hôm sau, nhiều trứng dường như biến mất khỏi chậu. Nàng có ăn hết chúng? Dường như vậy, nhưng khi kiểm tra cặn kẽ, dường như có một lượng lớn trứng trôi nổi tự do trên đáy kiếng mà nàng dọn dẹp bên dưới chậu. Tôi hút ra một số (khoảng 200) và quyết định để số còn lại cho cá cái. Có lẽ việc gỡ và ấp trứng tự do trên đáy của phòng đẻ là hành vi bình thường. Vào sáng hôm sau, toàn bộ trứng được dọn khỏi chậu hoa và, chẳng may, tôi không thấy trái nào ở mặt kiếng bên dưới chậu. Nhưng cá cái vẫn ở bên trong chậu, và dường như có khả năng mọi thứ đang được thực hiện một cách bình thường. Có phải cá này là loài ấp miệng trễ?

Câu hỏi còn lại bây giờ là làm gì với số trứng mà tôi đã hút ra? Khoảng 170 trứng được bỏ vào lồng ấp cải tiến từ hộp lọc khí (modified sponge filter incubator) vốn cho phép chăm sóc thành công trứng Geophagus mà không cần cha mẹ (Leibel 1983), và chỉ một số tối thiểu bị nấm. Những lồng ấp (hatcher) như thế này được chứng thực bởi David Palmater, chiến hữu và nhà thủy sinh tài năng ở Cambridge, Massachusetts. 30 trứng còn lại, vốn phát triển bào thai thành công trong hộp không-sục khí, được chuyển sang lọ có nắp vặn và đặt trong một thùng xốp nhỏ cùng với kính lúp, ống nhỏ giọt (eye dropper), nhiệt kế, và một thùng ươm microworm nhỏ (tôi là người lạc quan!), và bộ thí nghiệm khoa học (Science Fair Kit) này được chất lên nhà xe Winnebago vốn mất 18 giờ để đưa tôi đến Milwaukee và hội thảo cichlid. Một người bạn thứ hai đồng ý việc kiểm tra cá cái “ấp trứng” và tôi đang giữ liên lạc với cô và Dave Palmater một cách thường xuyên qua điện thoại từ hội thảo. Hóa ra thứ duy nhất mà cá cái heckelii đang “ấp” là bữa ăn mà nàng đã dùng qua với gần 1800 trứng mà tôi chừa lại, và nàng trút bỏ sự thất vọng bằng cách trừng phạt toàn diện bạn tình của mình. 30 trứng ở nhà xe Winnebago sống sót qua chuyến đi gập ghềnh xuyên núi Poconos, đến Milwaukee, và được sưởi bằng một dụng cụ tạm thời là đèn phòng khách sạn, nở bốn ngày sau khi đẻ, là ấu trùng thêm bốn ngày nữa, và bơi tự do và ăn microworm vào ngày cuối cùng mà chúng tôi còn lưu lại Milwaukee. Cá bột mới nở rõ ràng chịu đựng núi Poconos kém hơn so với trứng, và ba mươi con cá bột cuối cùng ngửa bụng khi chúng tôi xuống xe ở Pennsylvania. Công bằng mà nói với những con đã chết này, lòng tôi cũng chưa thật ưng ý lắm.

Nhờ Dave Palmater, 170 con heckelii cản hồ đầu tiên ở đất nước này vẫn hạnh phúc và mạnh khỏe và được gần 100 mm SL mười tám tháng sau khi đẻ (tháng một 1983). Cá bột mới nở to so với kích thước trứng và có thể xơi ấu trùng artemia ngay lập tức. Ban đầu chúng lớn chậm theo khẩu phần này, vốn bị bỏ xa bởi cá bột Satanoperca jurupari được sinh vào cùng thời điểm và nuôi cùng với chúng. Tình trạng này tự thay đổi khoảng hai tháng sau khi đẻ khi việc luyện ăn đồ khô sau cùng đã hoàn tất: cá bột háu ăn và tiếp tục lớn rất nhanh kể từ đó. Cá non Acarichthys heckelii nổi bật với hình thức ngụy trang được mô tả trước đây, rõ ràng nhờ các hàng ánh kim ở độ tuổi này, và dấu vết như-lá cờ ở gai vây lưng (Hình 6). Ba gai vây lưng đầu tiên và màng vây giữa chúng đen thui, tiếp nối bởi một vệt trắng-hồng tươi lan trên 3-4 gai vây kế cận. Dấu vết này hết sức nổi bật và có thể có chức năng như một cột tín hiệu (semaphore) khuyến khích tụ bầy ở những cá non rất đàn đúm, quần tụ cao độ này. Cichocki (1976) báo cáo rằng ở dưới nước vết này phản quang (fluorescent ) và có thể nhìn thấy từ nhiều mét. Ông viết, “Một bầy cá non Acarichthys heckelii, cái lườn đồng thau-vàng của chúng nổi bật giữa đám mùn bã lơ lửng trong nước, trông như một dãy đèn nhấp nháy (trang 371)”. Đốm vây này, nhất là vùng trắng-hồng phản quang, mờ đi ở cá trưởng thành (vào khoảng 50 mm SL) và chỉ được phục hồi bởi sự đen lên của ba gai vây lưng đầu tiên trong các tương tác sinh sản và hung dữ.

Tái bút
Nỗ lực sinh sản lần thứ hai của cặp cá này dẫn đến, sau hai tháng buồn chán, cái chết của cá cái (bị cắn không thương tiếc bởi bạn tình), và kết cục tương tự với cá cái trưởng thành thứ hai của tôi khi sinh sản lại tái diễn. Hy vọng và dự định ngây thơ nhất của tôi đó là những con Acarichthys heckelii cản hồ (tank-raised) này có thể được nuôi đến trưởng thành và kích thích sinh sản. Nhiều cá bột được gửi cho nhu cầu và sở thích của các nhà thủy sinh, thành viên Nhóm Nghiên Cứu Geophagus/Aequidens thuộc American Cichlid Association [Hiệp Hội Cichlid Mỹ], và hy vọng rằng vài người trong chúng ta sẽ thành công và rằng cá cản hồ sẽ bớt hung dữ và thuần thục hơn nhằm tạo ra những thế hệ tiếp theo.

Ghi nhận
Đặc biệt gửi lời cảm ơn tới tất cả những nhân vật chủ chốt được đề cập đó đây trong bài viết này: Nhà Ecksteins và David Palmater. Cũng xin gửi lời cảm ơn tới Gary Grant vì đã chỉ ra và cung cấp bài viết trên DCG của Baran (1981), và tới Paul Loiselle vì đã duyệt qua bản thảo này.

Tham khảo

  • Axelrod, H.R., et. al 1962. Exotic Tropica) Fishes. TFH Publications, Neptune City, N.J.
  • Baran, 1981. Erstmals gelungen: Die Zucht von Acarichthys heckelii. DCG Info 12(10): 185-190.
  • Cichocki, F.P. 1976. Cladistic history of Cichlid Fishes and Reproductive Strategies of the American Genera AcarichthysBiotodoma, and Geophagus. Unpublished Ph.D. Dissertation, University of Michigan.
  • Cope, E.D., 1878. Synopsis of the Fishes of the Peruvian Amazan obtained by Prof. Overton during his expeditions of 1873 and 1877. Proc. Amer. Phil. Soc. 17: 673-70l.
  • Eigenmann, , 1912. The Freshwater Fishes of British Guiana. Mem. Carneg. Mus. 5:500.
  • Haeffner, , 1979. Guianacara geayi (Pellegrin 1903). Amer. Cichlid Assoc. Cichlid Index 3(2): 1-2.
  • Kullander, S.O., 1980. A Taxonomical Study of the Genus Apistogramma Regan, with a Revision of Brazilian and Peruvian Species. Bonner Zoologische Monogaphien 14: 1-152.
  • Leibel, W., 1983. A Sponge Filter Hatcher for the Artificial Rearing of Geophagus Eggs. The Sifter 1(I):12.
  • Loiselle, P.V., 1980. South American Eartheaters: Geophagus , the Genus and its Allies. FAMA June. p, 23.
  • Lowe-McConnell, , 1964. The Fishes of the Rupununi Savannah District of British Guiana. Jou. Linn. Soc (Zool.) 45: 103-144.
  • Lowe-McConnell, , 1969. The Cichlid Fishes of Guyana South America with Notes on their Ecology and Breeding. Behavior. Jou. Linn. Soc. (Zool.) 48: 255-302.
  • Pellegrin, , I903. Conribution a I’etude anatomique, biologique, et taxonomique des poissons de la famille des cichlides. Mem. soc. Zool. France 16:4-402.
  • Regan, C.T. 1905. Description of Acara subocularis Cope. Ann. Mag. Nat. Hist. Ser. 7 15: 557-558.
  • Steindachner, F., 1875. Beitrage zur Kenntniss der chromiden des Amazenstromes. Sitz. Akad. Wissensch. 71: 1-68.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

1
Bạn cần hỗ trợ?