Thú
nuôi chơi và thưởng ngoạn cá cảnh đã có lịch sử lâu đời trên thế giới.
Từ hàng ngàn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã nuôi giữ cá chép và cá
vàng làm cảnh. Tuy nhiên, thú nuôi chơi cá cảnh chỉ trở nên phổ biến và
có tính chất đại chúng trong khoảng 200 năm trở lại, đi cùng với sự
phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng nhu cầu về mặt tinh thần...
Lịch sử thú nuôi
chơi và thưởng ngoạn cá cảnh có thể còn xuất hiện trước cả giai đoạn các vua
chúa Trung Hoa ở trên, khi hoạt động nuôi trữ cá thịt đã xuất hiện ít nhất từ
4.500 năm về trước ở Ai Cập và Assyria. Trong các
loài cá cảnh, cá chép được ghi nhận là loài có lịch sử nuôi lâu đời nhất, từ
2000 năm trước công nguyên ở Trung Hoa. Trung Hoa cũng là nơi đầu tiên sinh sản
nhân tạo cá thành công và là chiếc nôi của hoạt động chọn lọc và lai tạo cá
vàng và cá chép làm cảnh. Người Nhật học kỹ thuật chọn giống cá vàng và chép từ
Trung Hoa, sau đó đã tạo nên thương hiệu “cá chép Nhật”…
Trong lịch sử
nuôi chơi cá cảnh, có lẽ sự xuất hiện của chiếc bể kính là cuộc cách mạng thật
sự tạo bước ngoặt lớn đưa cá cảnh trở nên phổ biến và có tính chất đại chúng
hơn. Cá cảnh được nuôi thả trong bể kính từ những năm 1750 ở Anh, nhưng gần 100
năm sau đó hình thức nuôi này vẫn không thể phát triển do những hạn chế về kiến
thức và sự hiểu biết về cách thức quản lý chất lượng nước và duy trì cân bằng
cây – cá và khí ôxy.
Các bể kính trưng
bày cá cảnh xuất hiện thường xuyên hơn ở châu Âu trong giai đoạn từ 1836 đến
1850, mặc dù thời kỳ đó các bể kính cá cảnh chưa có tên gọi như ngày nay. Điều
đáng lưu ý là các bể kính này phần nhiều trưng bày cá cảnh biển, có lẽ do sự
nghèo nàn về chủng loại của cá cảnh nước ngọt vào thời kỳ đó. Vào năm 1853, bể
cá cảnh công cộng đầu tiên được khánh thành ở Sở thú Luân Đôn, với tên gọi là
“nhà cá” (Fish House). Philip Henry Gosse là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“bể cá cảnh” (Aquarium) trong quyển sách “The Aquarium: An Unveiling of
the Wonders of the Deep Sea”.
Lịch sử cá cảnh
nước ngọt tuy nhiên lại bắt nguồn từ khu hệ cá nhiệt đới, chủ yếu ở Nam Mỹ,
Đông nam Á, châu Phi… Quyển sách cá cảnh nước ngọt đầu tiên được ghi nhận là
của tác giả Chang Chien Tei viết về cá vàng vào khoảng năm 1618 tại Trung Quốc.
Cá cảnh nước ngọt nhiệt đới du nhập vào châu Âu vào khoảng năm 1868 khi
Carbonier mang cá đuôi cờ (thiên đường) từ vùng Đông nam Á về Pháp nuôi làm cảnh.
Các nước phương Tây sau đó không chỉ nuôi chơi mà còn nghiên cứu sinh sản, lai
tạo thành công nhiều loài cá cảnh nước ngọt nhiệt đới như cá ông tiên (cá thần
tiên), cá đĩa (cá ngũ sắc thần tiên), xiêm, ngựa vằn... góp phần làm phong phú
hóa nguồn cung và đưa cá cảnh nước ngọt trở nên phổ biến như ngày nay.
Ở
Việt Nam, thú nuôi chơi cá cảnh chỉ mới có lịch sử trong khoảng 100 năm
trở lại. Vào thời kỳ trước 1945, theo nghệ nhân Võ Văn Sanh, ở Sài Gòn
đã hình thành ba khu vực bán cá cảnh ở Lưu Xuân Tín, Trần Hòa và Chợ Cũ.
Ngày nay chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín vẫn còn là chợ đầu mối cá cảnh lớn
nhất và lâu đời nhất ở Việt Nam, trong khi khu vực Trần Hòa và Chợ Cũ
chỉ còn trong ký ức. Trong quá trình phát triển, TP.HCM có thêm khu chợ
cá Nguyễn Thông hình thành vào thập niên 80 và khu chợ cá đường Cộng Hòa
hình thành vào cuối thập niên 90. Ngày nay, các cửa hàng cá cảnh đã rải
đều trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam, đưa lịch sử cá cảnh nước nhà
bước vào thời kỳ phát triển mới...